Câu chuyện ngôi mộ bê tông chôn chặt đầy hận thù ở ngoại thành Hà Nội

Câu chuyện ngôi mộ bê tông chôn chặt đầy hận thù ở ngoại thành Hà Nội
Vụ tự tử kinh điển xảy ra tại ngoại thành Hà Nội, câu chuyện đã xảy ra được 10 năm nhưng ngôi mộ bê tông vẫn còn đó với đầy hận thù của người phụ nữ và đứa con.

Một câu chuyện đau lòng, người đàn bà và đứa con nhỏ đã bị chôn chặt một cách tàn nhẫn dưới mội khối bê tông vĩnh cửu.

>>> Những câu chuyện đau lòng tại Nghĩa trang Hài nhi

>>> Đập phá gần 20 tấm bia mộ ở nghĩa trang lấy sắt bán chơi game

ảnh minh họa

Kỳ 1: Lá thư tuyệt mệnh dang dở và cái chết tức tưởi của hai mẹ con phải tự tử

Vụ tự tử có thể nói là kinh thiên động địa, ở một ngôi làng vùng ven quận Hà Đông (Hà Nội) diễn ra đã 10 năm, mà đến nay vẫn còn nóng hổi. Dưới những tán tre, bờ ao, sân đình, góc chợ, thi thoảng người dân ở ngôi làng T. này vẫn nhắc đến vụ tự tử quá đau lòng ấy.

Người đàn bà và đứa con nhỏ đã được chôn chặt một cách tàn nhẫn trong một khối bê tông vĩnh cửu, không hề được chôn cất một cách đàng hoàng tại những khu đất nghĩa trang thôn xã như thường lệ, mà lại được nhà chồng xây tường bao kín, song người dân đi qua con đường ấy vẫn cứ rờn rợn.

Người chết thì cũng đã chết, người sống đau đớn suốt bao năm nay, nên chúng tôi xin được giấu tên những nhân vật liên quan trong sự kiện đau lòng này. Chỉ mong rằng, câu chuyện sẽ là bài học cảnh tỉnh cho mọi người về mối quan hệ vợ chồng, gia đình, lối sống.

Chục năm trước, con đường vào làng T. rợp bóng tre xanh, với những thửa ruộng rau muống xanh rờn tít hút. Những mái nhà gianh, nhà ngói, với cổng làng cổ kính rêu phong, mang đặc trưng của những ngôi làng ở Hà Tây.

Giờ đây, xã đã lên phường, làng T. đã thành một tổ. Nhà cửa san sát. Ruộng lúa, ao đầm thả muống cũng đã được cắt mảnh chia lô, mọc lên nhà cao tầng. Chợ làng T. xưa nằm ven cánh đồng, có vài ba gian hàng, với mớ rau, con cá. Giờ chợ sầm uất hơn, người đi chợ tấp nập. Cây đa vẫn còn, nhưng nhà cửa quây kín. Giếng làng lọt thỏm giữa những ngôi nhà cao tầng.

Tôi tạt vào quán trà đá cạnh giếng làng ngồi hóng chuyện. Bà bán nước kể chuyện nửa to nửa nhỏ với mấy bà hàng xóm ngồi vỉa hè: “Bà biết chuyện cái H. hiện hồn về báo oán chưa? Sợ thật đấy! Phen này chắc nó tìm về trả thù gia đình nhà chồng đây. Không rõ rồi chuyện này sẽ còn tiếp tục như thế nào”.

Một bà khác chen vào: “Tôi thì không tin chuyện ma quỷ lắm. Hai cái nhà ấy cũng một chín một mười, kẻ chín lạng người một cân, lắm thủ đoạn lắm. Có khi rồi lại mượn chuyện linh hồn cái H. ra hành nhau đây. Thôi thì cứ nghe ngóng xem tuồng chèo tiếp diễn ra sao. Đến là tội cho con H., chết rồi mà vẫn không được yên. Đúng là người sống còn đáng sợ hơn người chết”.

Tôi lang thang ra đầu chợ, đem chuyện bà chủ quán trà đá kể chuyện có "hồn ma thiếu nữ" về báo oán, tức thì mấy bà, mấy chị buôn thúng bán mẹt xúm vào kể thêm. Người thì bảo hồn chị H. hiện về kêu nóng quá, không chịu được ngôi mộ bê tông, người thì bảo chị H. không chỉ nhập hồn vào người khác, mà còn liên tục ngồi trên nóc mộ khóc cười dọa nhà chồng chết khiếp.

Thôi thì đủ các chuyện, toàn đồn đại nhảm nhí. Chuyện linh hồn chị H. qua miệng người nọ, người kia, được thêm mắm dặm muối, nên cứ méo mó, hoang đường, liêu trai dần lên.

Theo sự chỉ dẫn của mấy chị bán thịt, tôi tìm vào con đường, xưa kia là trục chính từ quốc lộ dẫn vào làng. Giờ nhà cửa san sát, nhiều đường lớn được mở ngang dọc, các đô thị mọc lên, nên con đường làng này trở nên nhỏ hẹp, như một cái ngõ.

Thấy tôi dừng xe trước một bức tường cao đến 3m, lôi máy ảnh ra chụp, rất nhiều người kéo ra ngó nhìn. Một bà gọi lại bảo: “Nhà báo phải không? Định tìm hiểu chuyện cái H. tự tử hở? Ngôi mộ mẹ con nó ở trong bức tường này cơ.

Ngôi mộ bê tông chôn 3 mẹ con chị H. nằm phía trong bức tường này

Ngày trước chưa xây tường, còn có cả bàn thờ sát đường làng. Cứ ngày mùng một, ngày rằm dân làng chúng tôi lại mua hoa quả, thắp nén hương cho mẹ con nó đỡ tủi. Nhưng giờ nhà ông N. xây tường bao kín rồi, nên muốn chia sẻ nén hương với mẹ con nó cũng không được nữa. Nghĩ lại chuyện xưa mà đau lòng quá chú ạ!”.

Người phụ nữ này trình bày một hồi, rồi chột dạ không nói nữa. Dường như bà sợ những lời nói của mình sẽ lại gây tổn hại tình làng nghĩa xóm. Bà chỉ tôi vào nhà ông T., bà L., là bố mẹ đẻ của H., thiếu phụ xấu số, hiện đang nằm trong ngôi mộ bê tông, được bao kín bởi một bức tường cao gần bằng mái nhà.

Nhà ông T. cách ngôi mộ của mẹ con chị H. chỉ chừng 100m, ngay đầu làng. Tôi gọi cửa một hồi, thì người đàn ông lò dò ra mở cổng. Thấy người lạ, ông không tỏ ra ngạc nhiên. Dường như bao năm qua, ông vẫn phải đón tiếp khách lạ viếng thăm như tôi.

Tôi giới thiệu là nhà báo, ông lôi tuột vào trong nhà. Đã bao năm trôi qua, ông T. vẫn còn giữ nguyên những bức xúc như ngày đầu. Nhắc đến cô con gái xấu số, đứa cháu ngoại chết uổng, ông không kìm được xúc động.

Ông chỉ tay lên tấm giấy chứng nhận là chiến sĩ Thành cổ Quảng Trị treo trang trọng trên tường bảo: “Đồng đội tôi chết sạch sẽ, hóa ra lại may mắn. Tôi sống trở về tưởng may mắn hơn đồng đội, nhưng nào ngờ, lại phải chịu một nỗi đau còn hơn cả mất mạng.

Người ta không cầm dao giết con tôi, cháu tôi, nhưng người ta đã ép con tôi, cháu tôi phải chết. Thử hỏi, hoàn cảnh đó rơi vào anh, thì anh có chịu được không? Tôi đã mất một năm làm ông từ trông đền, mong được tĩnh tâm, trút bỏ thù hận, nhưng mối thù này quá lớn, không gỡ bỏ được”.

Rồi ông T. lọ mọ mở tủ, lôi ra bọc nilon với những giấy tờ phủ bụi. Ông vẫn còn giữ rất nhiều đơn kiện, giấy tờ liên quan đến cái chết của con gái và cháu ngoại. Đọc lại những dòng thư tuyệt mệnh của con, đôi mắt ông lại rưng rưng.

Trước khi chết, chị H. viết hai bức thư. Một bức gửi cho mẹ, một bức không đề gửi cho ai, mà có lẽ để tố cao người chồng, cũng như gia đình chồng, để mọi người hiểu vì sao H. phải chết tức tưởi, chết đau đớn cùng con mình.

Ông T. đau buồn kể về cái chết của con, cháu

Ông T. bảo: “Dù cái chết của con tôi đã 8 năm rồi, nhưng đến nay các cơ quan chức năng vẫn chẳng xử lý gì cả. Con tôi chết oan uổng, còn những người liên quan thì vẫn ngoài vòng pháp luật. Tôi nhờ chú đăng lên báo để mọi người cùng hiểu tại sao con tôi, cháu tôi phải chết oan, và vì sao đến nay tôi vẫn không xóa được hận thù”.

Lá thư này chị H. viết với tâm trạng bình tĩnh, kể tỉ mỉ, đầu cuối vì sao phải chọn con đường chết: “Tôi và anh X. lấy nhau từ năm 1999. Từ ngày tôi sinh cháu thứ hai, vợ chồng chúng tôi luôn nghì ngoặc với nhau. Anh X. đi làm ở Phú Xuyên, có bồ bịch. Mỗi lần anh về đối xử với tôi như là con ở, như là người thừa. Tôi cũng chấp nhận, thôi thì cho thời gian nó trôi qua để sống vì con.

Mùng 2 tháng 9 năm 2003, anh X. đưa bồ về nhà, chúng tôi lại nghì ngoặc với nhau. Từ hôm đó, anh X. giãy ra đòi bỏ tôi và bắt tôi ký đơn ly hôn. Tôi không chấp nhận.

Tôi cố níu kéo anh X. nhưng càng ngày mâu thuẫn càng diễn ra kịch liệt. Anh X. cho chị Ng. là chị chồng tôi hành hạ tôi v

Ngày 12 tháng Giêng năm 2004, chị Ng. đánh tôi. Bố mẹ chồng ra can và nói chồng tôi ra can. Chồng tôi bảo: “Chúng nó đánh nhau kệ chúng nó, không liên quan gì đến tôi!”. Bố mẹ chồng tôi nói anh X. không được.

Đến tháng 7-2004, ông bà quay ra đuổi đi hết: “Bao giờ chúng mày sống được bên nhau thì tao cho về!”. Tôi uất ức, tôi nghĩ lung tung, tôi nói với ông bà và anh X: “Mùng 10-8-2004 con sẽ đi”.

Tôi không làm gì nên tội. Tôi không nói láo, không hư. Anh cứ bắt ép tôi ký đơn ly dị. Ngày 6-8-2004, anh X. về hành hạ 2 đứa nhỏ. Hai đứa sợ quá, khóc. Tôi đứng gần cháu, anh X. đạp tôi một cái ra vỉa hè, chửi bới tôi và đùng đùng gấp quần áo ra đi...

Vài hôm sau, anh lại về xúi bẩy gia đình ép tôi phải đi, nhưng tôi không đi vì chúng tôi chưa giải quyết xong. Ngay tối 13-8-2004, 3 mẹ con tôi đưa nhau đi chơi khoảng 9h về. Gia đình anh X. đã đóng cổng và khóa trái cửa hàng.

Không mở được, tôi gọi từ 9h đến 12h đêm mà không ai ra mở. 3 mẹ con dắt nhau về bà ngoại. Tôi gửi cháu lớn ở nhà bà ngoại rồi lại ra gọi cửa cho đến 1h sáng. Hàng xóm nghe tiếng, ra xem thấy 2 mẹ con tôi ở ngoài đường, liền quay về lấy cho tôi mượn màn và chiếu. Thế là đêm hôm ấy 2 mẹ con tôi ngủ ngoài đường bê tông.

Đêm hôm đó, con tôi bị sốt. Tối hôm sau, ông bà lại không mở cửa cho tôi vào nhà. Hai mẹ con tôi lại ngủ ngoài hè. Nửa đêm, cháu sốt cao. Tôi cho cháu uống thuốc, cháu khóc. Ông ra mở cửa, nhìn thấy mẹ con tôi cho nhau uống thuốc, ông lại đóng cửa vào đi ngủ.

Hôm thứ ba, con thứ hai của tôi sốt quá, tôi vào hỏi: “Bố mẹ cho con xin chìa khóa để con mở cửa lấy gạo thổi cơm cho cháu”, nhưng bố mẹ chồng tôi bảo: “Không biết!”. Tôi đứng mãi... Tôi không còn cách nào bèn sang hàng xóm mượn kéo về cắt khóa để vào nhà. Thấy vậy, bố chồng tôi bảo: “Mày bảo mùng 10 mày dọn đi, nếu hôm nay mày không mang đồ ra khỏi nhà thì tao thuê người chuyển đồ của mày ra đường!”. Tôi im lặng không nói gì.

Hôm sau, ngày 15-8-2004, anh D., là anh chồng tôi, bảo: “Tối nay mày không chuyển đồ thì tao thuê người chuyển đồ của mày ra, trả tao nhà!”. Tôi nói: “Thôi thì bố mẹ và anh chị hãy để từ từ để em nói chuyện”... Anh X. thì tránh mặt tôi, không có nhà...”.

Lá thư chỉ dừng lại ở đó, chưa có hồi kết. Có lẽ, viết đến đây, cảm xúc tuyệt vọng lên cao, chị chuyển sang viết thư cho mẹ. Lá thư người con gái hiền dịu, nết na của ông T. gửi cho mẹ, tức cho vợ ông, như xoáy vào tim ông đau đớn.

Lúc viết thư gửi cho mẹ, có lẽ không còn giữ được bình tĩnh, nên chị H. viết nguệch ngoạc, chỉ được vài câu: “Mẹ ơi, con không thể sống được nữa, vì con không thể chịu đựng được. Cả nhà chồng ức hiếp con. Nếu con mà sống thì con điên mất. Mẹ ơi, con xin lỗi bố, mẹ, anh, chị, họ hàng, cô bác… Kiếp sau con sẽ là đứa con ngoan. Hai cháu cũng sẽ là cháu ngoại ngoan của ông bà”.

Sau những dòng thư xúc động tột độ, chị H. đã dùng xơ-ranh bơm những lọ thuốc diệt chuột vào hộp sữa tươi, đánh thức 2 cậu con trai thức dậy, ép hai con uống. Số sữa pha thuốc diệt chuột còn lại, chị dốc nốt vào miệng mình…

Còn tiếp...